Nhóm phát triển phần mềm thường làm việc để phát hành sản phẩm của mình theo từng giai đoạn. Một thực tế phổ biến là thu hút đầu vào và lời khuyên từ cộng đồng, sao cho các ý tưởng, đề xuất và cải tiến có thể được chia sẻ và kết hợp trước khi sản phẩm cuối cùng được phát hành ra public.

 

Trong loại quy trình ra mắt sản phẩm này (còn được gọi là vòng đời phát hành phần mềm), Alpha là giai đoạn đầu tiên, bao gồm phiên bản đầu tiên của phần mềm hoặc sản phẩm cơ bản, bản nguyên thủy đầu tiên được tạo ra.

 

Trong giai đoạn alpha, phần mềm được trải qua các thử nghiệm khác nhau, bắt đầu vòng lặp sản xuất và phản hồi. Đây là một cột mốc quan trọng đối với developer teams vì nó cho phép thử nghiệm lặp lại ở một mức độ nào đó từ đó cung cấp thêm thông tin chi tiết về hiệu quả và chất lượng của sản phẩm.

 

Các dự án có thể chọn khởi chạy giai đoạn đầu tiên của sản phẩm dưới dạng open alpha hoặc closed alpha. Trong giai đoạn open alpha, bất kỳ người dùng nào cũng có thể truy cập web để test - chẳng hạn như Github - và tải xuống mã nguồn để dùng thử sản phẩm mới được phát hành. Một tùy chọn khác là tạo bản “invite only” alpha, trong đó chỉ một số lượng hạn chế người dùng được chọn mới được phép truy cập và thử nghiệm sản phẩm.

 

Cả hai cách tiếp cận đều có ưu và nhược điểm. Một mặt, open alpha có thể thu thập dữ liệu từ một tệp lớn hơn nhiều, trong khi closed alpha cho một nhóm được chọn có thể cho phép team thu thập phản hồi trực tiếp từ tệp khách hàng mục tiêu theo các tiêu chí mong muốn.

 

Tùy thuộc vào lộ trình được chọn team, họ có thể sử dụng các chiến lược thử nghiệm khác nhau, và thu thập thông tin có giá trị liên quan đến chất lượng và quá trình sử dụng sản phẩm, rồi sử dụng thông tin đó làm kim chỉ nam để cải tiến sản phẩm hơn nữa. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, giai đoạn alpha được giới hạn cho các nhà phát triển và nhân viên của công ty và sản phẩm chỉ được cung cấp để thử nghiệm công khai trong giai đoạn beta.